Báo cáo chính trị của Đại hội IV Hội Người Cao tuổi Việt Nam
Đăng ngày 09/08/2012 2:440 nhận xét
|
HỘI NGƯỜI CAO TUỔI VIỆT NAM |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Hà Nội, ngày 15 tháng 10 năm 2011 |
XÂY DỰNG HỘI VỮNG MẠNH
LÀM NÒNG CỐT TRONG PHONG TRÀO “TOÀN DÂN CHĂM SÓC, PHỤNG DƯỠNG,
PHÁT HUY VAI TRÒ NGƯỜI CAO TUỔI”, GÓP PHẦN ĐẨY MẠNH TOÀN DIỆN
CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI, XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC
(Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Hội Người cao tuổi Việt Nam khoá III tại Đại hội đại biểu toàn quốc Hội Người cao tuổi Việt Nam lần thứ IV, ngày 11/11/2011)
Sau hơn 16 năm nỗ lực phấn đấu, xây dựng và phát triển, nhất là sau 5 năm tổ chức thực hiện Nghị quyết Đại hội III của Hội, Hội Người cao tuổi (NCT) Việt Nam tiến hành Đại hội IV trong không khí phấn khởi trước những thành tựu kinh tế- xã hội của đất nước cùng với thắng lợi to lớn của Đại hội toàn quốc lần thứ XI của Đảng, của cuộc bầu cử Quốc hội khoá XIII, Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kì 2011- 2016 và kết quả đạt được của Hội NCT Việt Nam trong nhiệm kì qua.
Năm năm qua, Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản quan trọng[1], đặc biệt là những định hướng về phát triển kinh tế – xã hội, về NCT của Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ X của Đảng, tác động sâu sắc đến hoạt động toàn diện của NCT và Hội NCT. Những thành tựu quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế- xã hội đổi mới của đất nước và sự nỗ lực phấn đấu của toàn thể cán bộ, hội viên thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội III và các Nghị quyết hội nghị Ban Chấp hành Hội NCT Việt Nam, đã tạo ra những thuận lợi và thời cơ mới, đồng thời cũng có những khó khăn, thách thức mới.
Tình hình thế giới, khu vực, đang diễn biến phức tạp, khó lường với những biến động chính trị, suy thoái kinh tế, biến đổi khí hậu, thảm hoạ thiên nhiên và ô nhiễm môi trường ngày càng tăng, tác động rộng lớn đến nhiều nước. Trong xu thế hoà bình, hợp tác, hội nhập và phát triển, xuất hiện nhiều phong trào nhân dân, nhiều diễn đàn khu vực và quốc tế đấu tranh vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân sinh, dân chủ và tiến bộ xã hội. Già hoá dân số là vấn đề toàn cầu, buộc nhiều quốc gia quan tâm và đề ra những quyết sách có tính chiến lược về NCT. Nước ta đang ở thời kì dân số vàng, nhưng đồng thời cũng đang bước vào ngưỡng của sự già hoá dân số với tốc độ nhanh, đòi hỏi có được những biện pháp thích hợp để phục vụ cho phát triển kinh tế- xã hội. Những thực tế trên vừa là thời cơ, vừa là thách thức đối với sự phát triển của xã hội, tác động đến tâm tư, tình cảm, đời sống NCT và quá trình phát triển của Hội NCT Việt Nam.
Trong bối cảnh chung ấy, được sự đồng ý của Ban Bí thư TW Đảng và Thủ tướng Chính phủ, chúng ta tiến hành Đại hội lần thứ IV Hội NCT Việt Nam. Đại hội có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, định hướng cho toàn Hội tiếp tục phát huy sức mạnh của lớp NCT, nâng cao hiệu quả của phong trào thi đua yêu nước “Tuổi cao- Gương sáng”, góp phần đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Phần thứ nhất
KIỂM ĐIỂM THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI III
HỘI NCT VIỆT NAM (2006 – 2011)
A. NHỮNG KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC:
Phát huy thắng lợi của nhiệm kì trước, trong nhiệm kì III, các cấp Hội đã triển khai có kết quả chương trình hành động và phong trào thi đua yêu nước “Tuổi cao chí càng cao, nêu gương sáng vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” trên cả ba mặt: Xây dựng Hội vững mạnh, chăm sóc tốt NCT và phát huy tốt vai trò NCT và được biểu hiện cụ thể với năm kết quả nổi bật sau:
1.Tham mưu với Đảng và Nhà nước về các quan điểm, chủ trương chính sách và các giải pháp lớn đối với công tác NCT:
1.1. Kết quả nổi bật, có ý nghĩa quan trọng về nhiều mặt là Hội đã được Uỷ ban Thường vụ Quốc hội giao chủ trì xây dựng, trình Dự án Luật NCT và đã hoàn thành tốt đẹp. Luật đã thể chế hoá một cách hệ thống, thể hiện đầy đủ và toàn diện đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về NCT và hoạt động của Hội NCT trong thời kì mới; khuyến khích sự quan tâm rộng rãi của các tổ chức, cá nhân nhằm xã hội hoá công tác chăm sóc và phát huy vai trò NCT. Luật NCT là nguồn cổ vũ, động viên lớn đối với NCT và các tầng lớp nhân dân. Trung ương Hội đã chủ động cùng tham gia xây dựng Nghị định của Chính phủ và các Thông tư hướng dẫn thực hiện Luật; tổ chức có kết quả các lớp tập huấn Luật NCT cho cán bộ Hội các cấp. Đến nay, Luật NCT đang từng bước đi vào cuộc sống.
1.2. Tích cực triển khai thực hiện và tham gia tổng kết Chỉ thị 59 của Ban Bí thư (khoá VII) “Về chăm sóc NCT”. Sau tổng kết, Ban Bí thư (khóa X) ra Thông báo số 305/TB-TƯ, ngày 03/02/2010, khẳng định vị trí vai trò quan trọng của NCT trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc và nêu rõ “quan điểm chủ trương của Đảng, Nhà nước ta về việc chăm sóc, phát huy vai trò NCT làtrách nhiệm của Đảng, Nhà nước và toàn xã hội”. Ban Bí thư yêu cầu: “Các cấp uỷ đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể đưa công tác NCT và xây dựng Hội NCT vào chương trình làm việc thường xuyên trong công tác vận động quần chúng; lãnh đạo và phối hợp chặt chẽ với Hội NCT trong các phong trào, tạo sức mạnh tổng hợp thực hiện các nhiệm vụ chính trị của địa phương, đơn vị ”. Đây là những chủ trương và sự đánh giá quan trọng của Đảng đối với sự đóng góp to lớn của NCT, Hội NCT trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đổi mới, phát triển bền vững đất nước hiện nay.
1.3. Trong nhiệm kì III, một số cấp Hội ở địa phương đã tham mưu với cấp ủy ra các nghị quyết, chương trình về lãnh đạo, chỉ đạo công tác NCT và Hội NCT; đóng góp ý kiến và tham gia xây dựng, giám sát các chủ trương chính sách, xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền, trong đó có hoạt động khá tập trung là tham gia vào Dự thảo Văn kiện trình Đại hội Đảng các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng.
1.4. Tham gia thực hiện và tổng kết việc thực hiện Chương trình hành động quốc gia về NCT giai đoạn 2005- 2010 và xây dựng Chương trình hành động quốc gia về NCT giai đoạn 2012- 2020.
Những đóng góp của Hội đã góp phần vào việc hình thành hệ thống quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước về tính chất, đặc điểm, tiềm năng, vị trí, vai trò NCT, Hội NCT trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; về công tác chăm sóc, phát huy vai trò NCT; về trách nhiệm của Đảng, Nhà nước và toàn xã hội đối với công tác này, trong đó có trách nhiệm của gia đình và của bản thân NCT …
2. Hội NCT các cấp ngày càng làm tốt hơn vai trò nòng cốttrong tham mưu, tổ chức thực hiện và giám sát thực hiện các chủ trương chính sách có liên quan đến NCT trong phong trào “Toàn dân chăm sóc, phụng dưỡng, phát huy vai trò NCT”.
2.1. Việc chăm sóc đời sống vật chất, tinh thần cho NCT được triển khai trên các mặt: Hoạt động tình nghĩa, chăm sóc sức khỏe, nâng cao hiểu biết, tổ chức vui chơi giải trí cho NCT có bước phát triển mới và ngày càng đi vào nền nếp, có hiệu quả, trở thành nếp sống văn hoá ở cơ sở.
Các Hội NCT cơ sở đã tham mưu cho UBND xã, phường, thị trấn xây dựng và thực hiện quy ước chúc thọ, mừng thọ phù hợp với quy định của Luật NCT và phong tục tập quán của địa phương; phối hợp với các ngành chức năng tổ chức, kiểm tra sức khỏe, cấp thuốc miễn phí cho NCT nghèo, động viên khuyến khích NCT thăm hỏi, giúp đỡ lẫn nhau khi đau yếu, tai nạn rủi ro; tham gia tổ chức chu đáo tang lễ cho NCT khi qua đời theo nếp sống văn minh. Một số tỉnh đã bước đầu xây dựng được mạng lưới tình nguyện viên chăm sóc NCT già yếu, cô đơn tại gia đình ở một số cơ sở xã, phường, thị trấn.
Một số tỉnh, thành phố, các cấp Hội đã tham gia cùng với các tổ chức liên quan trong việc thực hiện xã hội hoá có kết quả các chương trình, dự án chăm sóc NCT do các tổ chức quốc tế và trong nước tài trợ; hỗ trợ cho NCT nghèo được vay vốn, được hướng dẫn cách làm ăn, được truyền thông nâng cao nhận thức đã góp phần chăm sóc sức khoẻ, tinh thần cho hàng vạn NCT.
Từ thực tế hoạt động phối hợp liên ngành trong việc thực hiện các dự án đã hình thành được các mô hình chăm sóc NCT có hiệu quả như: Các trung tâm thể thao, văn hoá NCT; các mô hình câu lạc bộ đồng cảm, liên thế hệ tự giúp nhau phát triển kinh tế, xoá đói giảm nghèo. Hiện nay, các phường, thị trấn và nhiều xã đã thành lập câu lạc bộ NCT (xem phụ luch II) với các hình thức tổ chức, nội dung hoạt động rất đa dạng, phong phú, như các câu lạc bộ: Sức khoẻ, dưỡng sinh, thái cực quyền, thái cực trường sinh cầu lông, bóng bàn, bóng chuyền hơi, bơi lội…; các câu lạc bộ văn hoá, văn nghệ, thơ ca, đờn ca tài tử….
Nhìn chung, hoạt động của các loại hình câu lạc bộ đã đa dạng hoá hình thức tập hợp đáp ứng được nhu cầu thiết thực của tổ chức Hội NCT cơ sở, giúp cho NCT nâng cao sức khoẻ và đời sống tinh thần, đẩy lùi bệnh tật, sống vui, sống khoẻ.
Để tạo điều kiện vật chất cho hoạt động chăm sóc, phát huy vai trò NCT, các cấp Hội đã quan tâm xây dựng các loại quỹ: Quỹ “Chăm sóc NCT”, nay là quỹ “Chăm sóc và phát huy vai trò NCT”. Ban đầu chỉ có tổ chức ở hai cấp Trung ương và cơ sở do Hội NCT tự thành lập. Đến nay đã có 76% số xã, phường, thị trấn có quỹ với số dư hơn 177,4 tỉ đồng (xem phụ lục I). Nhiều tỉnh đã có quỹ ở cả 3 cấp và phần lớn do Uỷ ban nhân dân cùng cấp xây dựng và quản lí.
Ngoài việc xây dựng loại quỹ trên, các cơ sở còn xây dựng 3 loại quỹ: Hội phí (Quỹ hoạt động do hội viên đóng góp và quản lí); chân quỹ với số dư trên 244 tỉ đồng (có cơ sở như xã Giao Tiến, huyện Giao Thuỷ, tỉnh Nam Định, quỹ này phát triển mạnh, bình quân 500.000 đồng/1 hội viên); quỹ “Phụng dưỡng ông bà cha mẹ” do gia đình quản lí và sử dụng có số dư trên 554 tỉ đồng, có nơi lên tới 83 tỷ đồng (Hà Nội).
2.2. Chủ động tham gia tổ chức triển khai và giám sát thực hiện chính sách an sinh xã hội của Đảng và Nhà nước đối với NCT bằng các hoạt động cụ thể:
Năm 2009, Hội đã tổ chức có hiệu quả Cuộc vận động một triệu áo ấm tặng NCT nghèo. Cuộc vận động được các cấp uỷ Đảng, chính quyền, Mặt trận, các đoàn thể, doanh nghiệp và đông đảo các tầng lớp nhân dân quan tâm giúp đỡ. Kết quả, có 585.532 NCT nghèo (bằng 85%) được tặng áo ấm; trong đó 100% NCT nghèo ở 62 huyện nghèo trong cả nước được tặng áo ấm. Nghĩa cử cao đẹp này làm ấm lòng những NCT nghèo ở vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số.
Tham gia cuộc vận động xóa nhà tạm cho NCT nghèo, phát động và triển khai cuộc vận động “Mỗi xã làm một nhà cho hộ có NCT nghèo”. Tính riêng 4 năm (từ năm 2007 đến năm 2010) có hơn 51 nghìn người cao tuổi nghèo đã được xoá nhà tạm. Theo báo cáo của 57 tỉnh thành phố, trong những năm qua đã xoá được gần 114 nghìn nhà tạm cho NCT nghèo. Hiện nay còn khoảng 30 nghìn NCT đang sống trong nhà tạm.
Cùng với các việc làm trên, các cấp Hội đã tiến hành, khảo sát hoàn cảnh đời sống của NCT, nhất là NCT thuộc diện chính sách, NCT nghèo, già yếu… để chủ động đề xuất với chính quyền, Mặt trận Tổ quốc giúp đỡ. Tổ chức giám sát việc thực hiện Nghị định 67, Nghị định 13 của Chính phủ, nhận làm thủ tục cấp phát thẻ Bảo hiểm y tế cho NCT thuộc diện chính sách. Đến cuối năm 2010, có gần 888,8 nghìn NCT (bằng gần 100% NCT thuộc diện) được nhận trợ cấp xã hội và cấp thẻ Bảo hiểm y tế theo Nghị định 67 và Nghị định 13 của Chính phủ. Từ tháng 1 năm 2011, thực hiện Luật NCT, các tỉnh, thành phố đã tiến hành thống kê những NCT thuộc diện trợ cấp 80 tuổi trở lên và làm các thủ tục đề nghị chính quyền quyết định mức trợ cấp.
Theo báo cáo của 61 tỉnh, thành phố (thiếu 2 tỉnh Bạc Liêu, Hà Giang), tính đến 30/6/2011 có 1.395.251 NCT từ 80 tuổi trở lên thuộc diện được nhận trợ cấp xã hội theo Luật NCT, trong đó có 1.319.368 NCT đã được nhận trợ cấp, còn lại 76.157 NCT sẽ được nhận trong 6 tháng cuối năm 2011 (xem phụ lục II). Nhìn chung, các tỉnh đã chi trả trợ cấp cho NCT theo đúng quy định của Nhà nước. Một số tỉnh chi mức trợ cấp cao hơn so với quy định như: Bình Dương: 340 nghìn đồng/người, Quảng Ninh: 300 nghìn đồng/người, Hà Nội: 250 nghìn đồng/người. Các tỉnh, thành phố: TP Hồ Chí Minh, Vĩnh Phúc, Lâm Đồng: 240 nghìn đồng/người. Riêng TP Đà Nẵng có nhiều mức trợ cấp cho các độ tuổi, thấp nhất là 210 nghìn đồng/người cho NCT từ 80- 84, cao nhất là 350 nghìn đồng/người cho NCT từ 100 tuổi trở lên…Đặc biệt, tỉnh Bắc Ninh đã mở rộng diện giải quyết trợ cấp cho NCT từ 75 tuổi đến 79 tuổi với mức trợ cấp 90.000 đồng/người.
2.3. Phát huy vai trò NCT tham gia phát triển kinh tế, “Nêu gương sáng, góp phần xoá đói giảm nghèo, làm giàu chính đáng”.
Với tinh thần dám nghĩ, dám làm, nhiều NCT đã lập được thành tích xuất sắc trong lao động sản xuất, là tấm gương mẫu mực cho con cháu noi theo. Phong trào này phát triển, thể hiện ý chí của NCT không cam chịu đói nghèo, vươn lên làm giàu cho mình, cho con cháu, cho cộng đồng, góp phần vào công cuộc đổi mới của đất nước. Ở bất cứ ngành nghề nào, lĩnh vực kinh tế nào, từ đồng bằng đến miền núi, từ thành thị đến nông thôn, đâu đâu cũng xuất hiện những tấm gương NCT làm kinh tế giỏi. Không ít cụ đã vào tuổi bảy mươi, tám mươi vẫn tổ chức sản xuất kinh doanh có hiệu quả, góp phần giải quyết việc làm cho hàng nghìn người lao động, ổn định kinh tế gia đình.
Năm 2008, các cấp Hội đã tổ chức thành công Hội nghị biểu dương NCT làm kinh tế giỏi lần thứ II, biểu dương 224.064 NCT làm kinh tế giỏi, trong đó: Danh hiệu NCT làm kinh tế giỏi cấp tỉnh là 7.489 người, cấp huyện là 33.856 người, cấp xã là 182.719 người. Trung ương Hội đã trao cúp Diên Hồng cho những mô hình hay, những việc làm tốt trong phong trào phát triển kinh tế. Những mô hình kinh tế tốt đã được nhân rộng, có sức lan tỏa và tác động thúc đẩy cuộc vận động xoá đói giảm nghèo, phát triển kinh tế. Phong trào này không những giúp cho việc nâng cao đời sống mà còn góp phần truyền thụ kĩ năng, kinh nghiệm, kiến thức, khoa học công nghệ, nghề truyền thống, nêu gương cho thế hệ trẻ
2.4. Tham gia công tác xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền, xây dựng đời sống văn hoá, góp phần ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội.
Đây là thế mạnh truyền thống của NCT. Hoạt động này được diễn ra thường xuyên. Trong các kì Đại hội Đảng các cấp, bầu cử đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân và trong các kì tiếp xúc cử tri…, số đông NCT cả nước đã có những ý kiến đóng góp quan trọng tham gia xây dựng Đảng, chính quyền các cấp; đấu tranh phòng chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu, tiêu cực xã hội. Báo NCT đã góp phần phản ánh, đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực.
Hầu hết các cấp Hội tích cực tham gia thực hiện có kết quả cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư”, xây dựng gia đình văn hoá, khu dân cư văn hoá, tích cực tham gia công tác hoà giải, khuyến học- khuyến tài, xây dựng xã hội học tập, thực hiện Pháp lệnh Dân chủ và Quy chế Dân chủ cơ sở… góp phần ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội. Hội nghị biểu dương Già làng tiêu biểu khu vực Tây Nguyên (tháng 3/2009) thành công với sự phối hợp của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Uỷ ban Dân tộc và nhiều bộ, ban, ngành, đoàn thể Trung ương và cấp uỷ, chính quyền địa phương, là sự kiện tiêu biểu, một mẫu mực của sự phối hợp liên ngành, nhanh chóng lan toả trong toàn quốc. Tại hội nghị này, các Già làng đã góp nhiều ý kiến hiến kế xây dựng quê hương Tây Nguyên, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, góp sức xây dựng nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân vững mạnh, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc. Các Già làng cam kết, hứa với Đảng và Nhà nước làm tốt vai trò của mình trong cộng đồng dân cư, góp phần xây dựng Tây Nguyên giàu đẹp.
Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” theo Chỉ thị của Bộ Chính trị được tổ chức bằng nhiều hình thức phong phú, được đông đảo NCT cả nước tham gia. Nhiều cấp Hội NCT đã tổ chức nói chuyện chuyên đề về đạo đức Bác Hồ, Bác Hồ với NCT, lồng ghép với nội dung xây dựng văn hoá NCT. Nhiều địa phương, đơn vị phối hợp với các ban, ngành, đoàn thể tổ chức học tập tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, toạ đàm, thi viết, thi kể chuyện về Bác Hồ, xuất bản sách giới thiệu những mẩu chuyện về Bác Hồ…Những lần sơ kết cuộc vận động, nhiều tổ chức Hội và hội viên được bầu là tập thể, cá nhân xuất sắc.
3. Đổi mới nội dung và phương thức công tác thi đua – khen thưởng. Phong trào thi đua yêu nước “Tuổi cao- Gương sáng” được phát triển lên một bước mới với nhiều hình thức khác nhau, xuất hiện nhiều điển hình hay, kinh nghiệm tốt.
Từ kinh nghiệm của các nhiệm kì trước, Trung ương Hội đã xây dựng và thực hiện Đề án đổi mới nội dung thi đua, tập trung vào 3 nhiệm vụ trung tâm: Xây dựng Hội vững mạnh, chăm sóc NCT và phát huy vai trò NCT; đổi mới công tác chỉ đạo thi đua, khen thưởng; tổ chức phong trào thi đua yêu nước “Tuổi cao- Gương sáng” trong hệ thống tổ chức Hội gắn với phong trào “Toàn dân chăm sóc, phụng dưỡng, phát huy vai trò NCT”.
Phong trào thi đua được phát triển cả bề rộng lẫn chiều sâu. Hoạt động của 10 cụm và khối thi đua thuộc cơ quan Trung ương Hội từng bước được cải tiến, dần đi vào nề nếp, giúp các địa phương, đơn vị có điều kiện hiểu biết lẫn nhau, trao đổi kinh nghiệm, động viên nhau đẩy mạnh phong trào thi đua chung của toàn Hội.
Công tác khen thưởng từng bước được cải tiến; thủ tục đề nghị các danh hiệu thi đua được tiến hành theo quy định; hình thức khen đa dạng, cả trong và ngoài Hội, trung ương và địa phương…cho những tập thể, cán bộ, hội viên NCT có thành tích xuất sắc.
Từ năm 2007 đến nay, Trung ương Hội đã trao tặng 5.463 bằng khen cho tập thể, cán bộ, hội viên NCT; tặng 27.804 Kỉ niệm chương cho cán bộ, hội viên và một số cán bộ Đảng, Nhà nước, các ban, ngành, cá nhân có những đóng góp cho hoạt động của Hội. Hằng năm, Trung ương Hội tặng bằng khen cho 25- 30 Ban Đại diện Hội NCT cấp tỉnh, tặng 10 đến 12 cờ thi đua cho các tỉnh, thành phố và các đơn vị dẫn đầu cụm, khối thi đua; phối hợp với Hội đồng Thi đua- Khen thưởng tỉnh, thành phố làm thủ tục tặng Huân chương Lao động hạng ba cho 05 Ban Đại diện tỉnh và nhiều Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ cho những tập thể và cá nhân xuất sắc. Kết quả đó là nguồn cổ vũ, động viên lớp NCT cả nước, làm tăng thêm niềm tin, tạo động lực mới, thúc đẩy hoạt động của NCT và sự đồng tình ủng hộ của các tầng lớp nhân dân đối với các phong trào thi đua yêu nước của Hội NCT Việt Nam.
4. Phối hợp công tác với các bộ, ban, ngành, đoàn thể, các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước tham gia vào các hoạt động chăm sóc, phát huy vai trò NCT.
Công tác phối hợp hoạt động của Hội với các bộ, ban, ngành, đoàn thể được duy trì và phát triển. Hội NCT phối hợp thường xuyên với Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam trong chương trình xoá đói giảm nghèo, xoá nhà tạm cho hộ nghèo có NCT, với Uỷ ban Quốc gia về NCT Việt Nam, Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội, Bộ Y tế, Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Văn hoá- Thể thao và Du lịch, MTTQ Việt Nam, Hội Nông dân, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Cựu chiến binh, Hội Khuyến học, Hội Chữ thập đỏ, Hội Cựu Thanh niên xung phong trong “Cuộc vận động toàn xã hội chăm sóc và phát huy vai trò NCT”. Đặc biệt, trong năm 2011 đã kí kết chương trình phối hợp với Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng về “Bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, giữ gìn an ninh, trật tự khu vực biên giới, vùng biển giai đoạn 2011- 2015” và với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn “Chương trình xây dựng nông thôn mới”, được nhân dân đồng tình, ủng hộ, các cấp uỷ, chính quyền đánh giá cao.
Một số chương trình phối hợp hoạt động đã được sơ, tổng kết, rút kinh nghiệm và tiếp tục được kí kết chương trình phối hợp hoạt động tiếp theo, trong đó có các chương trình phối hợp hoạt động giữa Hội với Bộ Văn hoá- Thể thao- Du lịch, Bộ Giáo dục- Đào tạo, Hội Khuyến học, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn…Nổi lên là chương trình phối hợp với Bộ Công an trong cuộc vận động “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc trong tình hình mới” và chương trình phối hợp phòng chống tội phạm. Chương trình này đã đi vào chiều sâu và được mở rộng trong các cấp Hội và các cơ quan Công an, xây dựng được nhiều hình thức phối hợp, vận động thích hợp có hiệu quả. Trong công tác khuyến học, khuyến tài, NCT thực sự là nòng cốt. Đội ngũ cán bộ làm công tác này từ Trung ương đến cơ sở phần đông là NCT.
Kết quả thực hiện chương trình phối hợp trong những năm qua đã góp phần giảm bớt khó khăn, đổi mới phương thức hoạt động, tạo thêm nguồn lực cho Hội NCT và phát huy sức mạnh tổng hợp xã hội hoá công tác chăm sóc và phát huy vai trò NCT.
Hoạt động đối ngoại có bước phát triển mới, từng bước gắn với hoạt động chăm sóc và phát huy vai trò NCT. Xây dựng và phát triển mối quan hệ hợp tác với các tổ chức NCT của Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan, Philipin, Lào, Cămpuchia, Pháp, Úc, các tổ chức NCT trong khu vực và tổ chức trợ giúp NCT quốc tế (HAI). Hội NCT Việt Nam đã tích cực tham gia phong trào NCT quốc tế như phong trào “Hành động vì nhu cầu của NCT” (ADA) do HAI khởi xướng. Trong điều kiện khó khăn về nguồn lực con người và tài chính, hoạt động đối ngoại đã chủ động vươn lên góp phần khơi nguồn tài chính, khai thác được một số nguồn tài trợ thông qua thực hiện các dự án xây dựng mô hình chăm sóc và phát huy vai trò NCT. Hoạt động đối ngoại cũng tập trung vào tuyên truyền, học tập kinh nghiệm tổ chức và hoạt động của NCT các nước như Đan Mạch, Hàn Quốc, Thái Lan, Philipin tham gia vận động chính sách. Có thể nói, hoạt động đối ngoại của Hội đã góp phần tích cực vào công tác đối ngoại nhân dân, tăng cường một bước mối giao lưu, trao đổi, học tập kinh nghiệm và sự hiểu biết của NCT các nước đối với Việt Nam.
5. Xây dựng, kiện toàn, củng cố tổ chức, thực hiện công tác kiểm tra, giám sát, đổi mới phương thức hoạt động, đưa các hoạt động của Hội đi vào nề nếp.
5.1. Về công tác tổ chức, cán bộ:
Ban Chấp hành (BCH) Trung ương Hội từng bước được kiện toàn và phát huy được sức mạnh của tập thể. Các uỷ viên Ban Thường vụ, ngoài nhiệm vụ chung, đều được phân công phụ trách công việc cụ thể và mỗi người đều cố gắng hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.
Tổ chức bộ máy của cơ quan Trung ương Hội tinh gọn theo hướng coi trọng chất lượng, gồm những đồng chí có quan điểm chính trị vững vàng, có phẩm chất đạo đức, có năng lực lãnh đạo vận động NCT. Các ban, các đơn vị trực thuộc được kiện toàn, sắp xếp lại từ 08 Ban và Văn phòng còn 06 Ban và Văn phòng. Công tác Đảng được tăng cường, phát triển, nâng cấp từ Chi bộ cơ sở cơ quan lên Đảng bộ cơ sở cơ quan, kết nạp thêm đảng viên mới. Những việc làm trên đã góp phần nâng cao hiệu quả công tác lãnh đạo, tham mưu cho Ban Thường vụ, Ban Chấp hành..
Các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã thành lập Ban Đại diện Hội NCT và từng bước kiện toàn tổ chức theo hướng giảm cán bộ kiêm nhiệm, tăng cán bộ chuyên trách là NCT như Hướng dẫn số 372/HD- NCT ngày 06/9/2007 của Ban Thường vụ Trung ương Hội và Công văn số 372/CV- BNV ngày 05/02/2008 của Bộ Nội vụ. Riêng tỉnh Đắk Nông, dưới sự chỉ đạo của Tỉnh uỷ, đã tiến hành đại hội ở cả 3 cấp, bầu Ban Chấp hành trước thềm Đại hội lần thứ III Hội NCT Việt Nam
Nhiều Ban Đại diện Hội NCT cấp tỉnh có cán bộ thường trực chuyên trách là NCT, trong đó có 14 đồng chí nguyên là Uỷ viên Ban Thường vụ Tỉnh uỷ, Phó Chủ tịch UBND tỉnh, có 2 đồng chí nguyên là Phó Bí thư Tỉnh uỷ. Ở cấp huyện có 573 cán bộ chuyên trách làm việc ở 689 Ban Đại diện quận/huyện, trong đó có nhiều đồng chí nguyên là Bí thư, Phó Bí thư Huyện uỷ. Chế độ phụ cấp hằng tháng cho cán bộ chủ chốt Ban Đại diện ở nhiều tỉnh được thực hiện theo Công văn 372 của Bộ Nội vụ.
Hội đã tiến hành tổng kết mô hình Ban Đại diện cấp tỉnh, cấp huyện và có kế hoạch cụ thể triển khai Nghị định 45 của Chính phủ và Quyết định 68 của Thủ tướng Chính phủ. Đến nay, đã có 43 tỉnh được Uỷ ban nhân dân tỉnh quyết định công nhận Hội NCT có tính chất đặc thù.
Hầu hết các Hội cơ sở hết nhiệm kì đã tổ chức Đại hội. Công tác phát triển hội viên được đặc biệt quan tâm (năm 2010 kết nạp trên 374 nghìn hội viên mới, đưa tổng số hội viên NCT cả nước lên hơn 7,4 triệu người, đạt 86%). Phụ cấp của Chủ tịch Hội cấp xã, phường ở nhiều địa phương đã được nâng lên cao hơn trước, có 30 tỉnh được hưởng trên mức lương tối thiểu. Số ít tỉnh đã giải quyết chế độ phụ cấp cho các Phó chủ tịch hội cơ sở và Chi hội trưởng NCT như các đoàn thể khác. Điều này phù hợp với tinh thần của Quyết định số 30/2011-QĐ/TTg, ngày 10/6/2011 của Thủ tướng Chính phụ.
5.2. Công tác kiểm tra, giám sát xây dựng Hội:
Trong nhiệm kì, TƯ Hội và các cấp Hội đã thường xuyên quan tâm thực hiện công tác kiểm tra, giám sát theo quy định của Điều lệ Hội, góp phần xây dựng Hội vững mạnh.
Ban kiểm tra đã được hình thành ở cấp TƯ Hội và các Hội cơ sở. Ở cấp tỉnh, cấp huyện có cán bộ kiêm nhiệm công tác kiểm tra.
Công tác kiểm tra, giám sát của các cấp Hội đã bám sát những qui định trong Điều lệ Hội và các nghị quyết của các cấp Hội, giúp cho BCH các cấp Hội kiểm tra, giám sát thực hiện chương trình, kế hoạch công tác hàng năm và theo chuyên đề; kiểm tra thực hiện Điều lệ Hội; giải quyết đơn, thư khiếu nại, tố cáo và giám sát việc thực hiện các chính sách của Nhà nước đối với NCT.
Ban Kiểm tra TƯ Hội, trong nhiệm kì, đã tập trung tham mưu giúp TƯ Hội “Làm rõ đúng sai trong chi tiêu tài chính ở Báo NCT” theo Thông báo số 45/TB/TƯ, ngày 13/11/2006 của Ban Bí thư TƯ Đảng.
Qua công tác kiểm tra, giám sát, nhiều cấp Hội đã giải quyết được kịp thời những sai sót trong công tác Hội, tháo gỡ những vướng mắc trong quan hệ giữa tổ chức Hội với hội viên, phát hiện và xử lí những vi phạm trong quản lí, sử dụng tài chính, tài sản của Hội. Tuy vậy, vụ án ở Báo NCT đến nay vẫn chưa được giải quyết dứt điểm.
5.3. Về phương thức hoạt động:
Hội đã đổi mới công tác chỉ đạo, tập trung hướng về cơ sở, gắn hoạt động của Hội với thực hiện nhiệm vụ kinh tế- xã hội, tạo điều kiện cho cơ sở hoạt động và tổng kết từ cơ sở, quan tâm đến lợi ích thiết thực của NCT, của cán bộ Hội, nhất là những người gặp nhiều khó khăn ở miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số; tập trung chỉ đạo giải quyết dứt điểm những việc tồn đọng, nổi cộm kéo dài nhiều năm.
Việc đổi mới phương thức hoạt động của Hội đã góp phần hiện thực hoá các chính sách của Đảng và Nhà nước, thực hiện xã hội hoá các hoạt động của Hội gắn với thực hiện cuộc vận động “Toàn xã hội chăm sóc và phát huy vai trò NCT”, mang lại những lợi ích thiết thực cho NCT, nhất là NCT nghèo, khó khăn.
Nét nổi bật trong nhiệm kì III, Trung ương Hội đã chủ động đặt chương trình làm việc với nhiều cấp uỷ, chính quyền tỉnh, thành phố về công tác NCT, Hội NCT; tổ chức các đoàn của Ban Thường vụ đi khảo sát, kiểm tra tìm hiểu thực tiễn hoạt động của Hội và tình hình của NCT ở các cơ sở; chỉ đạo các địa phương nghiên cứu tình hình thực tiễn để xây dựng chương trình công tác cho phù hợp. Ban Đại diện, BCH Hội một số địa phương tích cực làm tham mưu cho cấp uỷ, chính quyền về công tác NCT.
Có được những thành tích nêu trên là do những nguyên nhân chủ yếu sau:
– NCT và Hội NCT được lãnh đạo của Đảng, Nhà nước quan tâm, cùng với sự phối hợp, giúp đỡ của MTTQ, các bộ, ban, ngành đoàn thể các cấp.
- Cùng với sự phát triển kinh tế xã hội chung của đất nước, đời sống của NCT từng bước được nâng lên.
- Có sự nỗ lực phấn đấu bền bỉ, chủ động, sáng tạo, tâm huyết, nhiệt tình, dám nghĩ, dám làm của các cấp Hội và đội ngũ cán bộ, hội viên, đồng thời có sự hưởng ứng, tham gia của các tầng lớp nhân dân, các tổ chức, các doanh nghiệp…
B. NHỮNG HẠN CHẾ, THIẾU SÓT.
Một là, công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức về tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với NCT và Hội NCT chưa được các cấp Hội quan tâm thường xuyên, đúng mức; chưa làm tốt việc tham mưu cho cấp ủy, chính quyền về các hoạt động chăm sóc, phát huy vai trò, nguồn lực NCT và xây dựng tổ chức Hội ở địa phương. Việc tổng kết, đúc rút kinh nghiệm, nhân điển hình tiên tiến chưa được quan tâm thường xuyên.
Hai là, hệ thống tổ chức Hội các cấp chưa hoàn chỉnh, chưa phát huy tính chủ động của mình để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của Hội. Công tác đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ, xây dựng đội ngũ cán bộ Hội chưa được quan tâm đúng mức. Cán bộ ở một số cấp Hội năng lực tổ chức vận động NCT hạn chế. Một số cán bộ Hội, vì phải làm công tác kiêm nhiệm nên thời gian dành cho công tác Hội hạn chế.
Phương thức hoạt động, lề lối làm việc thiếu sâu sát, còn mang nặng tính hành chính, quan liêu, chưa thực sự phù hợp với điều kiện hoạt động của tổ chức và cán bộ Hội. Một số cơ sở Hội sinh hoạt chưa đều, hoạt động đơn điệu, nghèo nàn, tỉ lệ NCT tham gia chưa cao; tỉ lệ tập hợp NCT vào Hội ở một số xã miền núi, vùng sâu, vùng xa còn thấp[2].
Một số chỉ tiêu Đại hội III đề ra, mặc dầu các cấp Hội đã có nhiều cố gắng thực hiện, nhưng do những điều kiện khách quan, nên chưa hoàn thành: Về tổ chức vẫn còn một số xã chưa thành lập được Hội ở cơ sở (chỉ tiêu phấn đấu là 100%); mới tập hợp được 86% NCT vào Hội (chỉ tiêu phấn đấu là 90%); mới có 76% số xã, phường, thị trấn có Quỹ “Chăm sóc và phát huy vai trò NCT” (chỉ tiêu phấn đấu là 80%); hiện cả nước mới có khoảng 90% Hội NCT cơ sở và 18% trong tổng số chi hội có báo NCT (chỉ tiêu phấn đấu là 100%)…
Ba là, phong trào thi đua yêu nước “Tuổi cao- Gương sáng” thiếu tính liên tục, có nơi vận dụng không sát với thực tế địa phương. Tiêu chí thi đua xác định còn dàn trải, chưa phù hợp với các loại hình tổ chức các cấp Hội, đặc biệt là chưa phù hợp với các đối tượng hội viên NCT. Công tác khen thưởng còn bất cập; nhiều nơi chưa được đặt trong hệ thống chỉ đạo thi đua- khen thưởng của địa phương. Việc xây dựng, nhân các điển hình tiên tiến còn chậm.
Phong trào “Toàn dân chăm sóc, phụng dưỡng, phát huy vai trò NCT” không đồng đều trong các vùng, miền, có nơi hầu như chưa có “phong trào”. Tổ chức Hội các cấp chưa làm tốt vai trò nòng cốt trong phong trào “Toàn dân chăm sóc, phụng dưỡng, phát huy vai trò NCT”. Cuộc vận động “Toàn xã hội chăm sóc và phát huy vai trò NCT” được phát động từ tháng 6 năm 2008 chậm đi vào cuộc sống. Một số địa phương chưa triển khai cuộc vận động này. Hoạt động phát huy vai trò NCT còn lúng túng, thiếu tính đa dạng theo lợi thế của NCT. Còn một bộ phận NCT khó khăn chưa được chăm sóc đầy đủ. Thiếu cơ chế, chính sách để phát huy nhiều hơn nữa vai trò của NCT, nhất là đối với NCT là các nhà khoa học, những NCT có kinh nghiệm, có tay nghề cao…
Hoạt động đối ngoại nhân dân tuy có tiến bộ nhưng còn hạn chế. Nhiều kinh nghiệm tốt và nhiều mô hình hoạt động quốc tế về NCT chưa được vận dụng và nhân rộng trong điều kiện, hoàn cảnh cụ thể ở Việt Nam.
Những hạn chế, thiếu sót do những nguyên nhân sau:
- Về nguyên nhân khách quan: Tình hình, số lượng, chất lượng NCT, Hội NCT trong đời sống xã hội đang thay đổi, tác động đến kinh tế- xã hội và hoạt động của Hội NCT, trong khi một bộ phận cán bộ, đảng viên, kể cả một số cán bộ lãnh đạo, các nhà hoạch định chính sách và một số cấp ủy, chính quyền địa phương chưa có nhận thức đầy đủ về NCT, về Hội NCT để chuyển biến kịp với thực tiễn tình hình, nên công tác vận động NCT trong những hoàn cảnh cụ thể chưa được quan tâm đúng mức. Do vậy, chưa phát huy được tiềm năng, thế mạnh của đông đảo NCT trong xã hội.
- Về nguyên nhân chủ quan: Tổ chức bộ máy, chất lượng đội ngũ cán bộ, phương thức làm việc, chính sách và điều kiện vật chất không phù hợp với việc tổ chức thực thi chức năng, nhiệm vụ làm nòng cốt trong phong trào “Toàn dân chăm sóc, phụng dưỡng, phát huy vai trò NCT” của Hội. Lề lối làm việc ở một số cấp Hội còn chưa phù hợp với công tác vận động NCT, còn mang tính hành chính, quan liêu, hình thức, chậm được cải tiến, đổi mới.
Những thành tích và hạn chế thiếu sót nêu trên có liên quan tới công tác chỉ đạo của Ban Chấp hành, Ban Thường vụ và chức trách của từng thành viên (có báo cáo kiểm điểm kèm theo)
C. ĐÁNH GIÁ CHUNG VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM
Mặc dù còn có những hạn chế thiếu sót như đã nêu trên, song nhìn lại hoạt động của Hội trong nhiệm kì qua, nhìn lại hơn 16 năm xây dựng và phát triển tổ chức và hoạt động, Hội NCT đã thu được những kết quả to lớn, đáng trân trọng, đã cơ bản thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội III Hội NCT Việt Nam. Bước đầu góp phần hình thành, khẳng định được một số vấn đề lí luận, quan điểm, chủ trương, chính sách về NCT, tham mưu đề xuất việc tổ chức thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; đã định hình được những nội dung chủ yếu của hoạt động chăm sóc và phát huy vai trò NCT phù hợp với điều kiện thực tế, nhiều nơi đã trở thành nề nếp, đi vào cuộc sống; tổ chức Hội tiếp tục được xây dựng, kiện toàn, củng cố mang tính chất hệ thống từ T.Ư đến cơ sở, tập hợp được hơn 86% NCT vào Hội, góp phần thực hiện Nghị quyết Đại hội X của Đảng và nhiệm vụ chính trị cụ thể ở địa phương.
Kết quả đó càng khẳng định vị trí, vai trò, uy tín xã hội của NCT, Hội NCT trong tiến trình đổi mới, xây dựng, bảo vệ và phát triển bền vững đất nước; chứng tỏ sự trưởng thành của tổ chức và hoạt động của Hội, tạo điều kiện mới cho bước phát triển tiếp theo trong thời gian tới.
Từ thực tiễn hoạt động của Hội trong nhiệm kì qua, có thể rút ra được một số bài học kinh nghiệm sau:
Thứ nhất, quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đối với NCT; không ngừng phát huy truyền thống tốt đẹp và sức mạnh to lớn của lớp NCT, bám sát nhiệm vụ chính trị, kinh tế, xã hội của đất nước, vận dụng sáng tạo vào điều kiện cụ thể, lựa chọn nhiệm vụ sát, đúng là bảo đảm cho hoạt động của Hội có hiệu quả, không xa rời tôn chỉ, mục đích của Hội.
Thứ hai, coi trọng công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức về tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với sự nghiệp chăm sóc, phát huy vai trò NCT, tạo sự đồng thuận trong xã hội về vị trí, vai trò NCT, Hội NCT đối với đời sống xã hội hiện nay.
Thứ ba, vì quyền và lợi ích hợp pháp của NCT, tập trung xây dựng cơ sở Hội vững mạnh, không ỷ lại, chờ đợi; chủ động tham mưu, đề xuất với cấp ủy, chính quyền những chủ trương, chính sách, giải pháp về công tác NCT; phải có quyết tâm cao, xác định đúng trọng tâm, trọng điểm, phù hợp với điều kiện cụ thể; có biện pháp tổ chức hoạt động, chăm sóc và phát huy vai trò NCT bằng phong trào thi đua yêu nước “Tuổi cao- Gương sáng” gắn với việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của Đảng, Nhà nước, sự phối hợp với các tổ chức liên quan, tạo sức mạnh tổng hợp trong các lĩnh vực hoạt động của Hội.
Thứ tư, quán triệt quan điểm: “Chăm sóc, phát huy vai trò NCT là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước, toàn xã hội”, tích cực tham gia các chương trình phát triển kinh tế- xã hội của Nhà nước, nhất là những chương trình có liên quan đến NCT, thực hiện xã hội hóa, tăng cường phối hợp liên ngành và giữ vai trò nòng cốt trong phong trào “Toàn dân chăm sóc, phụng dưỡng, phát huy vai trò NCT”; biết phát huy khả năng của NCT: tự vận động, tự phát triển, tự chăm sóc, tự chịu trách nhiệm.
Thứ năm, khắc phục khó khăn, tập trung xây dựng Hội vững mạnh. Công tác tổ chức, cán bộ luôn luôn đi trước một bước; phải đa dạng hoá các hình thức tập hợp NCT, coi trọng việc lựa chọn cán bộ, nhất là người đứng đầu các cấp Hội; quan tâm đến chính sách và tạo điều kiện cần thiết cho các hoạt động của Hội.
Phần thứ hai
PHƯƠNG HƯỚNG, NHIỆM VỤ CỦA HỘI
NGƯỜI CAO TUỔI VIỆT NAM NHIỆM KÌ IV (2011 – 2016),
ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2020.
Từ bối cảnh quốc tế, trong nước theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, Luật NCT và yêu cầu phát triển của Hội như đã nêu trên, Đại hội thống nhất định hướng đến năm 2020 và phương hướng nhiệm vụ nhiệm kì IV (2011- 2016) như sau:
A. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA HỘI NCT VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2020.
Nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò NCT, Hội NCT trong đời sống xã hội; tập hợp, đoàn kết NCT tham gia sinh hoạt, xây dựng Hội vững mạnh, làm nòng cốt trong phong trào “Toàn dân chăm sóc, phụng dưỡng và phát huy vai trò NCT”, giúp cho NCT Sống vui, sống khỏe, sống hạnh phúc, sống có ích cho bản thân, gia đình và xã hội; góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ XI của Đảng, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Tiếp tục xây dựng, củng cố tổ chức Hội NCT Việt Nam vững mạnh, chủ động tham gia tổ chức thực hiện có hiệu quả Luật NCT, cụ thể hoá các chính sách để nâng cao chất lượng cuộc sống của NCT; đồng thời, tạo điều kiện cho NCT tham gia nhiều hơn vào các hoạt động của xã hội, xây dựng môi trường xã hội có nếp sống văn hóa, ý thức tôn trọng và biết chăm lo cho nhu cầu cuộc sống NCT; tham gia thực hiện thành công Chương trình hành động quốc gia về NCT giai đoạn 2012- 2020; bảo đảm cho NCT được chăm sóc tốt và được phát huy vai trò của mình trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân tạo nền tảng đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, đồng thời chủ động tham mưu với Đảng, Nhà nước chuẩn bị tốt để nước ta bước vào giai đoạn già hóa dân số; giải quyết tốt các vấn đề xã hội liên quan đến NCT trong thời kì công nghiệp hoá.
B.PHƯƠNG HƯỚNG, NHIỆM VỤ NHIỆM KÌ IV (2011- 2016).
1. Mục tiêu: Tạo ra những chuyển biến mới trong công tác xây dựng Hội vững mạnh, nhất là về xây dựng tổ chức, tích cực đưa Luật NCT vào cuộc sống, trước hết là thực hiện các chính sách mà Luật đã quy định; thực hiện Chương trình hành động quốc gia về NCT giai đoạn 2012- 2020, tạo điều kiện cho NCT thực hiện nghĩa vụ và hưởng đầy đủ các quyền lợi của mình, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ kinh tế, văn hoá- xã hội theo Nghị quyết Đại hội XI của Đảng.
2. Mục tiêu cụ thể:
- Xây dựng tổ chức Hội vững mạnh; đa dạng hóa các hình thức tập hợp, thu hút ngày càng đông NCT tham gia vào công tác Hội.
– Nâng cao hiệu quả các hoạt động chăm sóc, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống NCT, giảm bớt khó khăn cho NCT nghèo, già yếu, cô đơn; không để NCT phải sống lang thang, cơ nhỡ. Nâng cao nhận thức về quyền và lợi ích hợp pháp của NCT trong tiếp cận các dịch vụ xã hội.
- Đa dạng hóa hoạt động phát huy vai trò NCT, để mỗi NCT, tùy theo sức khỏe, điều kiện của bản thân, có thể tình nguyện đảm nhận được một công việc phù hợp trong quá trình thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ IV Hội NCT Việt Nam; tạo điều kiện cho hội viên tham gia công tác Hội, góp phần vào công cuộc phát triển kinh tế, văn hoá- xã hội của đất nước. Mỗi tổ chức Hội nhận với địa phương tham gia thực hiện một phong trào, một chương trình, một dự án để thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế, văn hoá- xã hội ở địa phương, hay một nhiệm vụ cụ thể phù hợp.
+ Tham gia với các cơ quan nhà nước, các đoàn thể nhân dân, giám sát việc thực hiện các chính sách đối với NCT;giúp cho NCT được hưởng đầy đủ, kịp thời các chế độ chính sách theo quy định của pháp luật, trước hết là chế độ trợ cấp xã hội, cấp thẻ Bảo hiểm y tế, tổ chức mừng thọ, cấp tiền mai táng phí…
3. Các chỉ tiêu cụ thể:
a. Tập hợp 90% NCT trở lên vào Hội.
b. Các Hội NCT cơ sở đều có kế hoạch tham gia giám sát thực hiện Luật NCT và các chính sách của Nhà nước đối với NCT, góp phần bảo đảm 100% NCT thuộc diện đều được hưởng trợ cấp xã hội và được cấp thẻ Bảo hiểm y tế; chủ động phối hợp với ngành Y tế, tạo điều kiện cho NCT được chăm sóc sức khoẻ ban đầu, được khám sức khoẻ định kì.
c. Phấn đấu 100% xã, phường, thị trấn có Quỹ chăm sóc, phát huy vai trò NCT; các Hội cơ sở, Chi hội phấn đấu mua và đọc báo, các tạp chí của Hội.
d. Cán bộ Hội các cấp được thường xuyên bồi dưỡng công tác Hội.
đ. Mỗi Hội NCT ở cơ sở nhận thực hiện một nhiệm vụ cụ thể, hoặc tham gia một chương trình dự án phát triển kinh tế- xã hội ở địa phương; mỗi chi hội ở thành phố, các tỉnh đồng bằng, trung du có ít nhất một câu lạc bộ NCT (Dưỡng sinh, TDTT, Văn nghệ…); mỗi hội cơ sở ở các tỉnh miền núi, vùng sâu, vùng xa phấn đấu có một Câu lạc bộ NCT;mỗi hội viên NCT còn sức khoẻ và điều kiện tình nguyện nhận làm một việc có ích, phù hợp, tham gia sinh hoạt một câu lạc bộ..
e. 70% NCT, 65% cơ sở Hội, 50% cấp huyện, cấp tỉnh, đạt danh hiệu “Tuổi cao – Gương sáng”; phấn đấu để từ 90% hộ có NCT đạt tiêu chuẩn gia đình văn hóa.
C. NHIỆM VỤ VÀ CÁC GIẢI PHÁP
1.Nhiệm vụ:
1.1. Tổ chức các hoạt động chăm sóc, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống NCT với những nội dung chủ yếu sau:
+ Phát huy kinh nghiệm của các nhiệm kì qua, để tổ chức thực hiện Luật NCT, các cấp Hội tiếp tục nâng cao chất lượng các hoạt động tình nghĩa, chăm sóc sức khỏe, nâng cao hiểu biết và các hoạt động vui chơi, giải trí, đáp ứng ngày càng tốt hơn những nhu cầu thiết thực hằng ngày của NCT, đặc biệt quan tâm đến NCT có hoàn cảnh khó khăn, già yếu, cô đơn, ở vùng sâu, vùng xa, dân tộc thiểu số.
+ Tham gia xây dựng và tổ chức thực hiện Chương trình hành động quốc gia về NCT giai đoạn 2012- 2020 để góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, xóa nhà tạm cho hộ nghèo có NCT; nâng cao tỷ lệ số NCT được kiểm tra, khám sức khoẻ hàng năm; nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh cho NCT; tiếp tục xây dựng và tham gia xây dựng, phát triển mạng lưới dịch vụ chăm sóc NCT.
+ Xây dựng mạng lưới chăm sóc NCT có hoàn cảnh khó khăn bằng các mô hình câu lạc bộ (Câu lạc bộ Đồng cảm, Câu lạc bộ Liên thế hệ, Câu lạc bộ Tự giúp nhau…) và các tổ hợp tác, các loại quỹ tự giúp nhau. Phối hợp với các tổ chức từ thiện nhân đạo, các doanh nghiệp, các tôn giáo để xây dựng mạng lưới tình nguyện viên chăm sóc NCT cô đơn, già yếu, khó khăn.
+ Xây dựng các loại quỹ, nhất là Quỹ “Chăm sóc và phát huy vai trò NCT” của các cấp Hội; chỉ đạo thí điểm xây dựng quỹ tương hỗ, đáp ứng các hoạt động của Hội.
+ Tham gia với các cơ quan nhà nước và chủ động giám sát việc thực hiện chính sách để NCT được hưởng đầy đủ, kịp thời các chế độ, chính sách theo quy định của pháp luật, trước hết là chế độ mừng thọ, trợ cấp xã hội, cấp thẻ Bảo hiểm y tế…
1.2. Tổ chức có hiệu quả các phong trào thi đua yêu nước, phát huy vai trò của NCT phù hợp với tình hình địa phương, đất nước và đặc điểm của NCT; cùng với Nhà nước, xã hội và gia đình tạo điều kiện để NCT phát huy trí tuệ, kinh nghiệm quý, phẩm chất tốt đẹp trong các hoạt động của Hội vì lợi ích chung.
Tiếp tục tham gia phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, xây dựng đời sống văn hóa, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá, giáo dục truyền thống đoàn kết, yêu nước, khuyến học, khuyến tài; giáo dục bồi dưỡng thế hệ trẻ; tham gia xây dựng Đảng, chính quyền, bảo vệ an ninh chính trị, tật tự an toàn xã hội, bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới, hải đảo, phòng chống quan liêu, tham nhũng và các tệ nạn xã hội. Tổ chức và động viên NCT tham gia thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển kinh tế- xã hội phù hợp với NCT; chương trình xây dựng nông thôn mới, vệ sinh an toàn thực phẩm, phòng chống tội phạm, trồng cây, trồng rừng bảo vệ môi trường sinh thái, giảm nhẹ thiên tai.
1.3. T¨ng cêng công tác đối ngoại nhân dân:
Mở rộng hoạt động hợp tác quốc tế, tăng cường trao đổi thông tin, hiểu biết lẫn nhau, học tập kinh nghiệm giữa Hội NCT Việt Nam với tổ chức quốc tế về NCT và tổ chức NCT các nước, trước hết là các nước láng giềng và các nước trong khối ASEAN. Tranh thủ sự giúp đỡ, hỗ trợ, chia sẻ kinh nghiệm của tổ chức NCT các nước phát triển, chủ động và tích cực tham gia các phong trào NCT quốc tế cũng như các hoạt động vì quyền và lợi ích NCT trên thế giới. Đề xuất, kiến nghị các chính sách, biện pháp của Chính phủ trong thực hiện cam kết về Tuyên bố chính trị Mađrit và các chính sách, chương trình hành động vì NCT. Phát huy kết quả thực hiện Dự án VIE011 (Cơ chế cộng đồng nhằm giảm thiểu tác hại của HIV/AIDS), VIE014 (Thúc đẩy cách tiếp cận liên thế hệ nhằm cải thiện đời sống cho các nhóm thiệt thòi ở Việt Nam), tích cực thực hiện có kết quả Dự án VIE022 (Thúc đẩy quyền của NCT thiệt thòi ở Việt Nam), tăng cường công tác vận động sự giúp đỡ của các tổ chức quốc tế để tiếp tục xây dựng và tạo nguồn dự án mới về chăm sóc và phát huy vai trò NCT. Cũng như các hoạt động khác, hoạt động đối ngoại phải góp phần thiết thực thúc đẩy phong trào của Hội, nhất là đổi mới phương thức và tổ chức hoạt động của Hội NCT Việt Nam.
1.4. Xây dựng tổ chức Hội sâu rộng vững mạnh từ Trung ương đến cơ sở, đa dạng hoá hình thức tập hợp, phát triển hội viên; xây dựng Hội NCT vững mạnh thành lực lượng nòng cốt trong phong trào “Toàn dân chăm sóc, phụng dưỡng và phát huy vai trò NCT”; tham mưu đề xuất, vận động tổ chức, thực hiện và giám sát thực hiện các chính sách; tích cực tham gia thực hiện xã hội hóa các hoạt động chăm sóc và phát huy vai trò NCT; xây dựng và tham gia xây dựng để hình thành các cơ sở chăm sóc, phát huy vai trò NCT (các trung tâm, các câu lạc bộ…) ở cấp Trung ương, tỉnh, huyện, cơ sở và chi hội gồm các cơ sở bảo trợ xã hội của Nhà nước, của các cấp Hội, của các tổ chức xã hội, tổ chức tôn giáo và của tư nhân. Trước mắt cần nâng cao chất lượng hoạt động của các trung tâm hiện có. Tập trung chỉ đạo việc xây dựng nhanh Trung tâm Quảng Ninh để sớm đưa vào hoạt động.
2. Các giải pháp thực hiện.
2.1. Nhóm giải pháp về công tác chăm sóc NCT:
+ Làm tốt vai trò nòng cốt trong phong trào toàn dân chăm sóc, phụng dưỡng, phát huy vai trò NCT; trước hết là thực hiện đầy đủ nhiệm vụ của Hội theo quy định của Luật NCT, làm tốt công tác giám sát thực hiện Luật, các chính sách của Nhà nước và công tác tham mưu cho cấp uỷ, chính quyền về công tác NCT ở địa phương. Đồng thời, dưới sự chủ trì của UBND, các cấp Hội chủ động phối hợp với các ngành, MTTQ, các đoàn thể trong việc thực hiện cuộc vận động “Toàn xã hội chăm sóc, phát huy vai trò NCT”.
+ Tổ chức quán triệt tốt Luật NCT, các cấp Hội xây dựng chương trình hành động thực hiện Luật phù hợp với tình hình địa phương và các đối tượng NCT (ở thành phố, nông thôn, miền núi, NCT có hoàn cảnh khó khăn,…). Tổ chức nghiên cứu tình hình kinh tế, xã hội của địa phương và nghiên cứu tình hình, nhu cầu, nguyện vọng của NCT ở các vùng, miền, các dân tộc để kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền và làm cơ sở xây dựng triển khai các hoạt động chăm sóc, phát huy vai trò NCT, đáp ứng những nhu cầu thiết thực của các đối tượng NCT ở địa phương; quan tâm đặc biệt đến những NCT khó khăn ở nông thôn, miền núi, dân tộc, NCT già yếu, cô đơn, không nơi nương tựa.
+ Phối hợp với các ngành Y tế, ngành Thể dục- Thể thao định kì tổ chức nói chuyện về sức khoẻ, nâng cao trình độ chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ cho hội viên, để họ tự chăm sóc, thực hiện phòng bệnh tích cực.
+ Chỉ đạo điểm xây dựng mạng lưới tình nguyện viên gióp ®ì, chăm sóc NCT già yếu cô đơn, NCT cã hoµn c¶nh khã kh¨n (gia ®×nh cã ngêi nhiÔm chÊt ®éc da cam, nhiÔm HIV/AIDS…) tại cộng đồng và có kế hoạch từng bước nhân rộng, hình thành mạng lưới tình nguyện viên chăm sóc NCT già yếu cô đơn.
+ Đẩy mạnh xây dựng các loại quỹ, trước hết là quỹ chăm sóc, phát huy vai trò NCT để đáp ứng các yêu cầu hoạt động của Hội. Khuyến khích việc xây dựng các loại quỹ tự giúp nhau của hội viên, như quỹ hợp tác cho vay vốn phát triển sản xuất, quĩ lo hậu sự (quỹ trợ táng ở TP Hồ Chí Minh)…Thí điểm xây dựng Quỹ chuẩn bị cho tuổi già đối với những người trong giai đoạn tiền NCT.
2.2. Nhóm giải pháp về phát huy vai trò NCT:
+ Từng cấp Hội NCT chủ động tham mưu với cấp uỷ, chính quyền, phối hợp với MTTQ, các tổ chức xã hội, gia đình tạo điều kiện để NCT phát huy trí tuệ, kinh nghiệm quý và phẩm chất tốt đẹp trong đời sống xã hội.
+ Tích cực thực hiện các chương trình phối hợp hoạt động giữa Hội với các Bộ: Công an, Quốc phòng, Lao động- Thương binh và Xã hội, Văn hóa Thể thao- Du lịch, Y tế, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, với các đoàn thể: Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Khuyến học, Hội Chữ thập đỏ, Hội Y tế công cộng…; tăng cường phối hợp hoạt động với các đoàn thể có đông hội viên là NCT: Hội Cựu chiến binh, Cựu Thanh niên xung phong, Cựu Giáo chức, Hội Liên hiệp Phụ nữ, Hội Nông dân, Hội Chữ thập đỏ…, góp phần đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động chăm sóc, phát huy vai trò NCT.
+ Nâng cao chất lượng phong trào thi đua “Tuổi cao- Gương sáng”, đổi mới công tác thi đua khen thưởng thực hiện Nghị quyết Đại hội IV của Hội, các cấp Hội cần tiếp tục thực hiện Đề án đổi mới nội dung phong trào thi đua “Tuổi cao- Gương sáng”, tập trung vào 3 nội dung chủ yếu: Xây dựng Hội vững mạnh, chăm sóc và phát huy vai trò NCT, xây dựng kế hoạch thực hiện các chỉ tiêu thi đua mà Đại hội IV đề ra. Căn cứ tình hình và yêu cầu của địa phương, từng thời gian, các cấp Hội NCT tinh, thành phố chủ động tập trung chỉ đạo tham gia các phong trào cụ thể, như: “Trồng cây, bảo vệ môi trường”, “Ông bà cha mẹ mẫu mực, con cháu hiếu thảo”, “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư”. Tiếp tục nghiên cứu cụ thể hóa tiêu chuẩn, tiêu chí thi đua khen thưởng phù hợp với các loại hình tổ chức của Hội và các đối tượng hội viên. Đối víi NCT đạt danh hiệu “Tuổi cao- Gương sáng”, trước hết là NCT mẫu mực, sống mực thước, có tác dụng giáo dục, làm gương cho con cháu và tích cực tham gia công tác xã hội tại cộng đồng.
+ Giáo dục truyền thống cách mạng, yêu nước và kĩ năng, kinh nghiệm, nghề truyền thống, góp phần đào tạo thế hệ trẻ; tham gia các hoạt động xã hội vì lợi ích của cộng đồng…
+ Tiếp tục nghiên cứu xây dựng chương trình dự án hợp tác quốc tế, trao đổi thông tin, kinh nghiệm về chăm sóc và phát huy vai trò NCT.
2.3.Nhóm giải pháp về công tác xây dựng Hội:
+ Trước hết cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức về NCT, về già hoá dân số, về Hội NCT; coi trọng công tác sơ kết, tổng kết, trao đổi kinh nghiệm, thông tin, nghiên cứu lí luận, tổng kết thực tiễn. Thường xuyên coi trọng và làm tốt công tác tham mưu cho cấp ủy, chính quyền về các chủ trương, chính sách và chỉ đạo công tác NCT.
+ Gắn việc thực hiện cuộc vận động “Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” với xây dựng nếp sống văn hoá của NCT theo Chỉ thị số 03- CT/TƯ ngày 14/5/2011 của Bộ Chính trị.
+ Hội NCT tỉnh/thành phố tham mưu cho Tỉnh ủy, Thành ủy và Ủy ban nhân tỉnh, thành phố về thực hiện Thông báo số 305- TB/TƯ ngày 03 tháng 02 năm 2010 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khoá X); Nghị định số 45/2010/NĐ- CP ngày 21/4/2010, Quyết định số 68/2011/QĐ-TTg ngày 26/11/2010 và Quyết định số 30/2011/QĐ-TTg ngày 10/6/2011 của Thủ tướng Chính phủ để sớm hoàn thiện hệ thống tổ chức Hội từ Trung ương tới cơ sở.
+ Cùng với việc xây dựng Ban Chấp hành, để bảo đảm tổ chức, triển khai Nghị quyết Đại hội IV, các cấp Hội cần chú trọng xây dựng bộ máy cán bộ chuyên trách giúp việc chuyên nghiệp gọn nhẹ, xây dựng mạng lưới cộngtác viên gồm những NCT có tâm huyết, nhiệt tình và có năng lực, kinh nghiệm tham gia các hoạt động của Hội trong giai đoạn mới.
+ Tăng cường công tác lựa chọn, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, xây dựng đội ngũ cán bộ Hội có phẩm chất và năng lực hoàn thành nhiệm vụ được giao; tiếp tục cải tiến lề lối làm việc, phương thức hoạt động cho phù hợp với tình hình, đặc điểm, đặc thù của Hội và tính chất của công tác vận động NCT. Từng bước hiện đại hóa công tác thông tin của các cấp Hội .
+ Thực tế ở nhiều địa phương hiện nay, địa bàn hoạt động chính của Hội là khu dân cư (thôn, làng, bản…). Vì vậy, các hội cơ sở cần quan tâm đổi mới tổ chức, hoạt động của các chi hội để đáp ứng yêu cầu hoạt động và phân cấp cho các Chi hội tổ chức các hoạt động: Tình nghĩa, chăm sóc sức khỏe, nâng cao hiểu biết; các hoạt động vui chơi, giải trí, vận động hội viên tham gia các công tác xã hội tại cộng đồng.
+ Coi trọng công tác hội viên, làm cho mỗi hội viên hiểu nghĩa vụ, trách nhiệm của mình đối với Hội, thực hiện tốt Điều lệ Hội. Hội viên là nhân vật trung tâm trong các hoạt động của Hội.
+ Xây dựng, kiện toàn Ban kiểm tra của các cấp Hội theo quy định của Điều lệ Hội để làm tốt chức năng tham mưu cho BCH, BTV cùng cấp, góp phần xây dựng Hội vững mạnh. Công tác kiểm tra, giám sát phải thực sự góp phần giúp các cấp Hội hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ mà Nghị quyết Đại hội IV và các Nghị quyết của BCH, BTV đã đề ra.
+ Cần đa dạng hóa các hình thức tập hợp NCT. Muốn vậy, các cấp Hội cần có kế hoạch xây dựng các cơ sở (các trung tâm, các câu lạc bộ…) chăm sóc, phát huy vai trò NCT, bắt đầu xây dựng cơ sở điểm và có kế hoạch phát triển hằng năm để hình thành các cơ sở chăm sóc, phát huy vai trò NCT của Hội từ Trung ương đến cơ sở và các câu lạc bộ (CLB) NCT ở các chi hội, trước hết là CLB văn hóa, văn nghệ, sức khỏe NCT. Các cấp hội phối hợp với các ngành, đoàn thể, tổ chức xã hội đẩy mạnh xây dựng hệ thống cơ sở chăm sóc NCT (không thuộc tổ chức Hội), gồm các CLB hưu trí, các ban liên lạc hưu trí, các loại hình câu lạc bộ NCT (Thái cực trường sinh, Kinh lạc thao, CLB sức khỏe ngoài trời,…), các cơ sở bảo trợ xã hội của Nhà nước, nhà chùa, nhà thờ, tư nhân…
Căn cứ vào các nhiệm vụ, giải pháp nêu trên, trong nhiệm kì IV cần dồn sức tổ chức thực hiện ba nhiệm vụ trọng tâm, đột phá sau:
Một là, lấy hội viên làm trung tâm; lấy chi hội, tổ hội, câu lạc bộ (là địa bàn cơ sở kéo dài) để tổ chức các hoạt động; lấy nội dung thi đua yêu nước “Tuổi cao- Gương sáng” làm mục tiêu phấn đấu.
Hai là, ổn định và nâng cao chất lượng các hoạt động chăm sóc, phụng dưỡng gắn với định hình các hoạt động phát huy vai trò NCT, có sự lựa chọn phù hợp, giúp cho NCT sống vui, sống khoẻ, sống hạnh phúc, sống có ích cho bản thân, gia đình và xã hội.
Ba là, khai thác, phát huy các nguồn lực nội sinh NCT, Hội NCT; nguồn lực nhà nước, nguồn lực xã hội và quốc tế, tạo ra sức mạnh tổng hợp, động lực thúc đẩy xây dựng và phát triển Hội vững mạnh toàn diện trong giai đoạn mới.
Với tinh thần “Tuổi cao chí càng cao, nêu gương sáng vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”, trong nhiệm kì qua, mặc dù còn có những thiếu sót, hạn chế, song kết quả đạt được trên đây là rất lớn, Hội NCT Việt Nam đã hoàn thành thắng lợi Nghị quyết Đại hội III của Hội trên cả 3 mặt: Công tác xây dựng Hội, công tác chăm sóc, công tác phát huy vai trò NCT, góp phần xứng đáng vào công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Kết quả đó đánh dấu mốc quan trọng, mở ra những trang mới trong quá trình phát triển đi lên của Hội, tạo đà cho công tác Hội trong nhiệm kì tới.
Chúng ta hoàn toàn có cơ sở để tin tưởng rằng, trong nhiệm kì IV, Hội NCT Việt Nam và phong trào của Hội sẽ có một bước tiến mới, đạt nhiều thành tựu mới góp phần xứng đáng vào công cuộc đổi mới, xây dựng và phát triển đất nước theo tinh thần Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ XI của Đảng./.
BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG
HỘI NGƯỜI CAO TUỔI VIỆT NAM
[1] Thông báo kết luận của Ban Bí thư số 305-TB/TW ngày 03/02/2010 về kết quả thực hiện Chỉ thị 59- CT/TW, ngày 27/9/1995 của Ban Bí thư (khoá VII) về chăm sóc NCT; Luật NCT được Quốc hội khoá XII thông qua; Nghị định 45/2010/NĐ- CP ngày 12/4/2010, quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý hội; Quyết định số 68/2010/QĐ-TTg ngày 01/11/2010 về việc quy định hội có tính đặc thù và Quyết định số 30/2011/QĐ- TTg, ngày 10/6/2011 của Thủ tướng Chính phủ về chế độ thù lao đối với người đã nghỉ hưu giữ chức danh lãnh đạo chuyên trách tại các Hội theo Nghị định 45/2011/NĐ- CP.
[2] Đến cuối năm 2010 vẫn còn một tỉnh có 71 xã chưa có tổ chức Hội NCT

Ý kiến bạn đọc
Tin liên quan
- Thông báo Kết luận của Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân, Chủ tịch UBQG về NCT VIệt Nam tại Hội nghị sơ kết công tác 6 tháng đầu năm 2012 và kế hoạch hoạt động 6 tháng cuối năm của UBQG(28/08/2012 6:46)
- Ban Tổ chức và Kiểm tra làm việc với các đồng chí Uỷ viên BCH không chuyên trách được phân công sinh hoạt với 2 ban.(10/08/2012 10:26)
- Hà Nội tập huấn cán bộ Hội NCT(10/08/2012 10:08)
- Nhân sự mới của Trung ương Hội NCT Việt Nam(10/08/2012 9:47)
- Tấm lòng người cha(09/08/2012 2:47)
- Báo cáo chính trị của Đại hội IV Hội Người Cao tuổi Việt Nam(09/08/2012 2:44)
- Điều lệ (sửa đội , bổ sung) Hội Người Cao tuổi Việt Nam(09/08/2012 2:43)
- Tuyên bố chính trị Madrid(09/08/2012 2:42)
- Triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Khoá XI)(09/08/2012 2:41)
- Báo Nhân dân – Chăm sóc người cao tuổi(09/08/2012 2:41)
Tin nổi bật
Các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng; các đồng chí Bí thư Tỉnh ủy, Thành ủy; lãnh đạo các Ban ...
Mức hỗ trợ mỗi căn là 15.000.000 đồng cho những hộ gia đình có người ...
мебель на заказ Ban Đại diện Hội Người cao tuổi tỉnh Đồng Tháp phố hợp với Trung tâm chính trị ...
10/08/2012 Trong phiên họp toàn thể Ủy ban quốc gia về người cao ...
Giai đoạn 2011 - 2015, thành phố sẽ mở rộng và phát triển mạng lưới lên 91 tuyến. Giai đoạn 2016 - 2020, phát triển lưới ...
06/08/2012 Ngày 3/8/2012, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội phối ...


















